Đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự

0
2793

Những người nào là đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự? Người đại diện có những quyền gì? Người đại diện có thể thay đổi người bào chữa hay không? Văn phòng Luật sư APEC sẽ tư vấn cho bạn về những vấn đề này.

Hỏi: Xin luật sư cho biết những người nào là người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự?
Trả lời:
Trong tố tụng hình sự, người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa.

Hỏi: Người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự nếu tham gia với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Trả lời:
Theo Khoản 1 Điều 56 Luật Tố tụng hình sự, người bào chữa có thể là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Điều 58 Luật Tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa như sau:
1. Người bào chữa có quyền:
– Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
– Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;
– Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
– Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;
– Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
– Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
– Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
– Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
– Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
– Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này.
2. Người bào chữa có nghĩa vụ:
– Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này;
– Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
– Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;
– Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
– Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án;
– Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
– Người bào chữa làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Con trai tôi là người bị thiệt hại về sức khỏe trong vụ án hình sự. Vì con tôi sức khỏe yếu nên tôi là người đại diện trong quá trình giải quyết vụ án. Vậy tôi muốn biết người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự có những quyền gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Tố tụng hình sự, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có những quyền sau:
a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Được thông báo về kết quả điều tra;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
d) Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;
đ) Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo.
Bên cạnh đó, bạn cũng cần lưu ý những quy định tại khoản 3, khoản 4 của Điều 51:
– Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà.
– Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự.

Hỏi: Cháu tôi bị bắt vì tội trộm cắp tài sản nhưng cháu chưa đủ 16 tuổi nên bố cháu là người đại diện trong quá trình giải quyết vụ án. Do không hiểu biết nên gia đình đã không mời người bào chữa và cơ quan công an chỉ định người bào chữa cho cháu tôi. Tuy nhiên, hiện nay gia đình muốn thay đổi người bào chữa cho cháu có được không?
Trả lời:
Điều 57 Luật Tố tụng hình sự quy định:
1. Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn.
2. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Do đó, trường hợp bị can chưa thành niên, người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự của bị can không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ. Tuy nhiên, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Về việc thay đổi người bào chữa:
Khoản c điều 3 mục II Nghị quyết 03/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:
– Trước khi mở phiên tòa, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản, trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
– Trường hợp họ trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản. Văn bản về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án.
– Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa sẽ xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận.
– Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết, trong đó cần nêu rõ căn cứ của việc không chấp nhận.
– Nếu chấp nhận thì yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người khác bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận, cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.